VIET THANG TRAVEL KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH
VIET THANG TRAVEL KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH

VỀ THĂM NHỮNG THÀNH CỔ NỔI TIẾNG VIỆT NAM

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc Việt Nam ta, có rất nhiều những công trình kiến trúc độc đáo, trong đó phải kể đến những tòa thành cổ. Mặc dù trải qua nhiều thăng trầm cùng lịch sử, bị nhiều cuộc chiến tranh và thời gian tàn phá đi nhiều nhưng những tòa thành cổ với tường cao, hào sâu, đình, đài còn sót lại chính là nơi lưu giữ các giá trị quý báu về phong cách kiến trúc, văn hóa, lịch sử của Việt Nam. Cùng Viet Thang Travel ngược dòng thời gian về tìm hiểu những tòa thành cổ nha!

HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích tiêu biểu gắn liền với hơn 1000 năm lịch sử của Kinh thành Thăng Long - Hà Nội, bắt đầu từ thời kì từ tiền Thăng Long (An Nam đô hộ phủ thế kỷ VII) qua thời Đinh - Tiền Lê, phát triển mạnh dưới thời Lý, Trần, Lê và thành Hà Nội dưới triều Nguyễn. Nơi đây là kinh đô của Việt Nam thời Lý, Trần, Lê và chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử quan trọng của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng.

Đây là một công trình kiến trúc cổ kính đồ sộ, được các triều vua xây dựng trong nhiều giai đoạn lịch sử và là di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích của nước ta.

Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay Kinh thành, bao quanh toàn bộ kinh đô và men theo nước của 3 con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Kinh thành là nơi ở và sinh sống của cư dân. Vòng thứ 2 là Hoàng thành, là khu triều chính, nơi ở và làm việc của các quan lại trong triều. Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm thành hay Long Phượng, ơi chỉ dành cho vua, hoàng hậu và số ít cung tần mỹ nữ.  

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội có tổng diện tích 18,395ha, bao gồm: khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và các di tích còn sót lại trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như cột cờ Hà Nội, Đoan Môn, điện Kính Thiên, nhà và hầm D67, Hậu Lâu, Bắc Môn, tường bao và 8 cổng hành cung thời Nguyễn.

Sau hơn 1000 năm thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, kinh thành xưa với những lầu son, gác tía không còn nữa, nhưng dựa trên những dấu tích còn lại, người ta có thể nhận thấy nơi đây từng tồn tại một quần thể kiến trúc đồ sộ, in đậm dấu ấn văn hóa, kiến trúc, xã hội của người Việt Nam.

Năm 2010, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Những giá trị nổi bật của khu di sản này được ghi nhận bởi 3 đặc điểm; chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ, tính liên tục với tư cách là một trung tâm quyền lực và các tầng di tích, di vật đa dạng, phong phú

THÀNH CỔ SƠN TÂY

Thành cổ Sơn Tây nằm giữa thị xã Sơn Tây, cách trung tâm Hà Nội hơn 40km, là một công trình kiến trúc quân sự đầu tiên và duy nhất được xây dựng bằng đá ong của Việt Nam. Thành Sơn Tây được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822), Triều đình nhà Nguyễn dựng thành nhằm bảo vệ vùng đất phía tây bắc Thăng Long.

Thành có tổng thể hình vuông, chiều dài khoảng 400m, cao 5m. Được xây theo kiểu Vauban-kiểu công trình quân sự lấy theo tên kỹ sư Vauban người Pháp. Tường thành được xây bằng gạch đá ong, thành có 4 cổng: Ðông, Tây, Tiền, Hậu, mỗi cổng đều có Vọng Lâu và chỉ có 1 lối ra vào. Xung quanh thành có hào sâu 3m, rộng 20m, chu vi khoảng 2.000m. Trong thành, các công trình được xây dựng theo kiểu đối xứng trên trục trung tâm Nam - Bắc, có 4 khẩu súng ở 4 góc thành, có điện Kính Thiên (nơi nghỉ của nhà Vua khi đi kinh lý), có dinh thự và công đường của các quan đầu tỉnh, kho lương thực, trại lính…

Trải qua gần 200 năm thăng trầm cùng lịch sử, bị nhiều cuộc chiến tranh và thời gian tàn phá. Hiện nay, thành cổ Sơn Tây chỉ còn lại vết tích một số đoạn tường thành, cổng thành cửa tiền, cửa hậu, hai khẩu thần công và một số phế tích như Vọng lâu, nền điện Kính Thiên, giếng nước...

Năm 1994, thành cổ Sơn Tây được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử kiến trúc quốc gia. Hiện nay, trong thành còn trưng bày một số loại máy bay cấp 5 của Quân chủng Phòng không - Không quân và là điểm đến tìm hiểu lịch sử với nhiều bạn trẻ.

THÀNH NHÀ HỒ

Nằm ở địa phận tỉnh Thanh Hóa ngày nay, Thành nhà Hồ (hay còn gọi là thành Tây Đô, thành An Tôn, thành Tây Kinh hay thành Tây Giai) từng là kinh đô của Việt Nam dưới thời Hồ Quý Ly, được xây dựng vào cuối TK XIV đầu TK XV. Thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, ở phía Tây thành phố Thanh Hóa. Thành có quy mô lớn, là công trình xây dựng bằng đá kiên cố duy nhất còn lại ở Đông Nam Á và là một trong số ít những thành lũy bằng đá còn lại trên thế giới.

Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành. La thành là vòng ngoài cùng, chu vi khoảng 4 km. Hào thành được đào bao quanh bốn phía ngoài nội thành, cách chân thành theo các hướng khoảng 50 m. Công trình này có nhiệm vụ bảo vệ nội thành.

Thành được xây dựng trên một địa thế hiểm trở “cuối nước, đầu non”, có núi cao bao bọc, có sông nước ngăn cách. Thành có 2 khu là khu thành nội và khu thành ngoại vi, với 4 cổng theo chính hướng nam, bắc, tây, đông gọi là cổng Tiền, Hậu, Tả, Hữu đều được xây dựng theo kiểu cổng vòm, riêng cửa phía Nam có 3 vòm cuốn.

Toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng hoàn toàn bằng những phiến đá vôi màu xanh, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau mà không cần chất kết dính vẫn đảm bảo độ bền vững. Tường thành có chiều cao từ 5-10m.

Tuy nhiên, trải qua hơn 600 năm tồn tại, hầu hết công trình kiến trúc bên trong Hoàng thành đã bị phá hủy. Những dấu tích nền móng của cung điện xưa giờ vẫn đang nằm ẩn mình phía dưới những ruộng lúa của người dân quanh vùng.

Ngày nay Thành Nhà Hồ đã và đang được từng bước trùng tu, tôn tạo nhằm khôi phục và gìn giữ một công trình kiến trúc độc đáo đã có trên 600 năm.

Tọa lạc trong một khu đất bằng phẳng rộng rãi, thành nhà Hồ là công trình kiến trúc bằng đá cổ độc nhất vô nhị ở Việt Nam và Đông Nam Á. Đặc biệt, vào tháng 6/2011, thành vinh dự được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

THÀNH CỔ BẮC NINH

Được xây dựng từ năm 1805 dưới triều vua Gia Long nhà Nguyễn, thành cổ Bắc Ninh được các chuyên gia, nhà nghiên cứu trong nước đánh giá là một công trình kiến trúc nghệ thuật quân sự tiêu biểu. Tòa thành hình lục lăng trấn giữ cửa phí bắc Kinh thành Thăng Long, từng là một trong 4 ngôi thành đẹp nhất Bắc Kỳ.

Thành có diện tích 545.000m2, tường cao hơn 4m đắp bằng đất đá, sau được thay bằng gạch đá, chu vi dài hơn hơn 2.000m, xung quanh có hào nước sâu bao bọc. Trong Thành có sắp xếp các bộ phận gồm Doanh trấn thủ, Đài gác vọng, kho thuốc súng, nhà Công đồng. Thời nhà Nguyễn, Thành Bắc Ninh là trung tâm bộ máy cai quản hành chính hai tỉnh Bắc Ninh - Thái Nguyên. 

Thành Bắc Ninh từng là một vị trí quân sự đặc biệt quan trọng, nằm trong tuyến phòng thủ phía Bắc, bảo vệ thủ đô, ngăn chặn các đạo quân xâm lược trước cửa ngõ Kinh thành Thăng Long. Đây cũng là một trung tâm chính trị, quân sự, là lỵ sở của trấn Kinh Bắc và của tỉnh Bắc Ninh sau này.

Dấu tích còn lại của Thành Bắc Ninh là ba cổng thành, một phần bờ thành và dãy hào sâu, 2 khẩu súng thần công, trong đó nổi bật là cổng tiền với đài gác vọng, cột cờ cao gần 20m. Không giống với những thành cổ khác được quan tâm trùng tu, bảo về, thành  cổ Bắc Ninh hiện nay vẫn chưa được chú ý tu bổ, tôn tạo để xứng đáng với giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc của mình.

THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

Thành Quảng Trị nằm tại trung tâm thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.  khi nhắc đến tên thành cổ này, người ta sẽ nghĩ ngay đến một trong nơi đã chứng kiến cuộc chiến tranh khốc liệt, là nơi hy sinh của biết bao người con đã ngã xuống vì độc lập của tổ quốc.

Đây là một công trình kiến trúc thành lũy cổ đồng thời cũng là lỵ sở hành chính - chính trị của tình Quảng Trị. Suốt chiều dài lịch sử, với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của tỉnh Thành cổ Quảng Trị không chỉ có vai trò to lớn đối với sự phát triển của địa phương mà còn có vị trí quan trọng đối với tiến trình phát triển của dân tộc.

Thành được khởi dựng vào những năm đầu của thế kỷ XIX.  từ thời vua Gia Long và đến thời vua Minh Mạng mới hoàn thiện, kéo dài gần 28 năm (1809-1837). Thành lúc đầu được đắp bằng đất, đến năm 1837 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch.

Bộ phận kiến trúc chính tạo ra diện mạo tổng quát của thành Quảng Trị là cấu trúc phòng thành. Phòng thành Quảng Trị được xây bằng gạch, tổng thể có hình vuông. Thành có cấu trúc kiểu Vauban, là một hệ thống phức hợp bao gồm những công trình kiến trúc liên quan chặt chẽ với nhau và mang tính bố phòng vững chắc.

Khuôn viên Thành có dạng hình vuông, chu vi tường thành hơn 2.000m, cao hơn 4m, dưới chân dày hơn 12m, bên ngoài thành có hệ thống hào rộng bao quanh. Bốn góc thành là 4 pháo đài cao nhô hẳn ra ngoài. Thành có 4 cửa: Tiền, Hậu, Tả, Hữu xây vòm cuốn, rộng 3,4m, phía trên có vọng lâu, mái cong, lợp ngói, cả 4 cửa đều nằm chính giữa 4 mặt thành.

Trong lịch sử thời phong kiến, thành Quảng Trị là là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là tiền đồn quân sự quan trọng bảo vệ kinh đô Phú Xuân - Huế từ phía Bắc.

Mặc dù bị bom đạn cày xới, phá hủy, nhưng Thành cổ Quảng Trị vẫn là một trong những số rất ít thành cổ Việt Nam còn giữ được cấu trúc thành lũy rõ ràng với hệ thống tường thành, cổng thành, hào nước.

Trận chiến đấu bảo vệ thành cổ đã lùi xa, những dấu tích về trận đánh không còn nhiều, các nhân chứng sống dần một ít đi nhưng mảnh đất năm xưa, con người năm ấy mãi mãi đc khắc ghi như một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Ngày nay Thành cổ Quảng Trị đã trở thành 1 công viên văn hóa tưởng niệm, là nơi khắc dấu những chiến công bất tử của quân nhân Quảng Trị anh hùng, Thành cổ Quảng Trị giờ đây là nơi giáo dục truyền thống yêu nước và là điểm thu hút hấp dẫn khách tham quan trong nước và bè bạn quốc tế.

KINH THÀNH HUẾ

Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Đây là nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn từ năm 1805 đến năm 1945. 

Kinh thành Huế có diện tích hơn 500ha, được xây dựng theo kiến trúc của phương Tây kết hợp một cách tài tình với kiến trúc thành quách phương Đông. Kinh thành gồm 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn trong nhỏ: Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành. Tất cả những công trình này được xây dựng xung quanh một trục chính, theo hướng Nam Bắc.

Các di tích trong Kinh thành gồm Kỳ Đài, Trường Quốc Tử Giám, điện Long An, Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, Đình Phú Xuân, Hồ Tịnh Tâm, Tàng thư lâu, Viện Cơ Mật - Tam Tòa, Đàn Xã Tắc, Cửu vị thần công.

Điều đặc biệt, các quần thể kiến trúc trong kinh thành Huế, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành như: núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Tha,...

Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới và cũng là di tích nổi bật nhất.

THÀNH XƯƠNG GIANG

Thành cổ Xương Giang thuộc địa phận xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xương Giang là tên ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ XV (1407). Thành được xây bằng đất, do sự tác động của thời gian, lịch sử và con người, ngôi thành cổ hiện không còn được nguyên vẹn mà chỉ còn lại những dấu tích. Các dấu tích còn lại cho biết thành hình chữ nhật, chiều dài theo hướng Đông-Tây đo được 600m, chiều rộng theo hướng Bắc - Nam 450m, diện tích 27ha, tường đắp đất cao dày, bốn góc có pháo đài, hào rộng bao quanh, gồm có 4 cửa, và cửa chính trông về phía Tây.

Đây là nơi diễn ra trận công thành của nghĩa quân Lam Sơn ngày 28/9/1427 và trận diệt viện oanh liệt ngày 3/11/1427 mà Lê Quý Đôn đánh giá: Từ triều Trần bắt được Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi cho đến lúc ấy, nước Nam thắng giặc phương Bắc chưa có trận nào lớn như vậy (theo Đại Việt thông sử).

Để kỷ niệm lịch sử chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn tại thành Xương Giang, hàng năm tỉnh Bắc Giang tổ chức lễ hội vào ngày 6-7 tháng Giêng. Trong lễ hội có nhiều nghi lễ và trò vui đặc sắc. 

Với ý nghĩa lịch sử đó, ngày 22-01-2009, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã có quyết định xếp hạng Thành Xương Giang là di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang cấp Quốc gia.

Khi đến với thành cổ Xương Giang, du khách sẽ nhận ra những dấu ấn riêng  biệt của ngôi thành như tấm bia đá xanh nguyên vẹn, trên trán bia có đề các chữ hán “Xương Giang cổ thành bi ký” (bia ghi về thành cổ Xương Giang) ở góc thành tây bắc. 

THÀNH CỔ LOA

Từ bao đời nay, di tích Thành Cổ Loa cùng những nhân vật huyền thoại như thần Kim Quy với chiếc nỏ thần bắn một phát hạ hàng nghìn tên giặc, về vua An Dương Vương xây thành và nàng công chúa Mỵ Châu cùng chàng Trọng Thuỷ,... tất cả đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần của người dân Việt Nam.

Thành Cổ Loa là tòa thành đầu tiên của Đông Nam Á, thành cổ nhất, có quy mô cấu trúc lớn nhất trong số những thành cổ ở nước ta. Đây là ngôi thành bề thế, kiến trúc độc đáo và là trung tâm quyền lực của nhà nước Âu Lạc lúc bấy giờ. Hiện nay Cổ Loa đã được công nhận là một trong 21 khu du lịch Quốc gia. Trong khu di tích có các công trình như Đền Thượng, Giếng Ngọc, Đình Cổ Loa, đền thờ An Dương Vương,...

Nhìn từ góc độ địa lý, vị trí của thành Cổ Loa có ý nghĩa rất lớn. Đây là nơi có hai dòng sông huyết mạch giao nước gần Cổ Loa, là đỉnh thứ hai của tam giác châu thổ sông Hồng, hiện nay thuộc địa phận huyện Đông Anh, Hà Nội.

Thành Cổ Loa được xây dựng kiểu vòng ốc nên được gọi là Loa thành. Tương truyền rằng có 9 vòng thành xoáy trôn ốc, tuy nhiên đến hiện tại chỉ còn 3 vòng. Thành Nội chu vi 1600m, thành Ngoại chu vi 15km, hình dáng khúc khuỷu, bao gồm vô số những công trình kiến trúc độc đáo như Giếng Ngọc,tượng Cao Lỗ, am Mỵ Châu,...

●    Thành ngoại: có chu vi khoảng 8km, thành được xây dựng theo phương pháp đào đất tới đâu khoét hào tới đó, đắp thành, xây lũy liền kề. Các lũy xưa cao từ 4-5m đặc biệt có chỗ cao từ 8-12m. Tổng lượng đất ước tính 2,3 triệu m3. 
●    Thành trung: Có chu vi khoảng 6,5km, cũng có kết cấu như thành ngoại nhưng diện tích hẹp và kiên cố hơn. 
●    Thành nội:  Có diện tích khoảng 2km2, là nơi ở của vua An Dương Vương cùng các cung tần, mỹ nữ và quan lại dưới triều. Ngày nay đây cũng là nơi lập đền thờ vua và quy tụ những công trình kiến trúc lịch sử liên quan tới khu di tích thành Cổ Loa.

Thành Cổ Loa thể hiện một cố gắng lớn lao, một kỳ công lao động sáng tạo của người Việt cổ trong thuở đầu dựng nước. Theo truyền thuyết dân gian, kiến trúc sư của tòa thành ốc này là tướng quân Cao Lỗ. Ba lớp thành kiên cố nối liền với nhau và được kết nối với sông Hoàng, nước Hoàng Giang bảo đảm cho hệ thống hào của thành Cổ Loa luôn có nước, tạo nên một mạng lưới giao thông đường thủy thuận lợi. Ngoài ba vòng thành và sông Hoàng kỳ vĩ, Cổ Loa còn nổi tiếng với một chùm di tích cửa Trấn - miếu Trấn tại 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc.

Đến với khu di tích thành Cổ Loa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một không gian lịch sử văn hóa đậm đà những màu sắc cổ tích và huyền thoại, một không gian đan xen giữa hiện thực và lịch sử, giữa thần tích hư ảo và hiện thực sống động với hành trình khám phá Cổ Loa thành. và tận hưởng được sự yên bình và an lành của thiên nhiên làng quê với điệp trùng thành quách, lâu đài, bia tượng cùng những hào nước, sông ngòi xanh biếc, cây cối tươi tốt và tạo ra một cảm giác khác biệt so với không khí ồn ào nơi đô thị.

Nếu đam mê tìm hiểu lịch sử nước nhà, thì đừng bỏ lỡ cơ hội tham quan những tòa thành cổ của Việt Nam bạn nhé. Hy vọng Viet Thang Travel đã mang lại cho bạn những thông tin và kiến thức bổ ích. 

Phương Anh


THÔNG TIN LIÊN HỆ

0909 081 263

Gửi yêu cầu để được tư vấn.

Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn.

Tour hot

Hotline tư vấn: 0909081263
Zalo