VIET THANG TRAVEL KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH
VIET THANG TRAVEL KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH

NHỮNG DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TẠI VIỆT NAM

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và cách thức khác. 

1. Năm 2003: Nhã nhạc cung đình Huế

Huế là vùng đất nổi tiếng với các công trình kiến trúc về cung điện, đền đài với tuổi thọ hàng trăm năm tuổi cùng với nền ẩm thực vô cùng phong phú và đặc sắc chứa đựng những tinh túy, cái hồn quê hương của dải đất miền Trung. Về mặt văn hóa tinh thần, vùng đất cố đô còn có một nét đẹp di sản đặc biệt mà bất kỳ một ai khi nhắc tới đều biết và muốn một lần được thưởng thức nó. Đó chính là Nhã nhạc cung đình Huế - được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào tháng 11 năm 2003.

Ở Việt Nam, hình thức nhạc chính thống thường được dùng tại các cuộc lễ tế Giao, tế Miếu, các dịp triều hội được gọi là Nhã nhạc. Đây chính là thuật ngữ được dùng diễn tả sản phẩm kết hợp giữa Lễ và Nhạc. 

Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được hiểu là tất cả các thể loại ca nhạc, kịch hát và múa. Thường được dùng trong các lễ nghi cúng tế, triều chính, các ngày quốc lễ do triều đình tổ chức, dịp sinh hoạt vui chơi giải trí của vua và hoàng tộc. 

Kể từ thời nhà Hồ, Nhã nhạc bắt đầu được dùng để chỉ âm nhạc cung đình nói chung và lễ nhạc cung đình nói riêng, còn có thể để gọi tên một tổ chức âm nhạc nào đó hay một dàn nhạc cụ thể. Nhã nhạc cung đình Huế được biểu diễn vào các dịp lễ hội như: vua đăng quang, băng hà và các lễ hội tôn nghiêm khác, trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. 

Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia". Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất".

2. Năm 2005: Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên là tài sản quý giá của 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á và Nam đảo sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam. Hiện nay, không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên vẫn còn được biểu diễn và trải rộng ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Kon Tum, Gia Lai. 

Tín ngưỡng của người dân nơi đây xuất phát từ phong tục thờ cúng tổ tiên, shaman giáo và thờ cúng thần linh. Được xem là có sự gắn bó mật thiết với cuộc sống hàng ngày của người dân và các mùa trong năm, những tín ngưỡng này đã hình thành nên một thế giới thần bí, nơi mà những chiếc cồng chiêng được xem là chiếc cầu nối thông linh giữa thần linh, thế giới siêu nhiên cùng với con người. Bên trong mỗi chiếc cồng, chiếc chiêng là một vị thần, cồng chiêng càng già thì thần linh càng mạnh và linh thiêng. Chính vì vậy, mỗi nhà đều có cồng, chiêng, có càng nhiều bộ thì càng thể hiện sự giàu có và quyền thế, cũng chinh là vật che chắn, bảo vệ cho gia đình.

Cồng Chiêng gắn với Tây Nguyên như một phần không thể thiếu trong suốt vòng đời mỗi con người và trong tất cả các sự kiện quan trọng như: lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu ngày bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng lúa mới,... 

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên của người Việt Nam rất đặc trưng so với cồng chiêng ở những khu vực khác do tính cộng đồng rất cao. Điều này thể hiện qua mỗi nhạc công sẽ đánh một chiếc. Từng nhạc công sẽ nhớ rõ từng tiết tấu của từng bài chiêng trong mỗi một nghi lễ khác nhau và phải kết hợp hài hòa cùng với các nhạc công khác. Tùy từng dân tộc, cồng chiêng có thể được đánh bằng tay hoặc dùi, thông thường dàn cồng chiêng có từ 2 đến 13 chiếc có đường kính dao động từ 25 đến 120cm. 

Ngày 15/11/2005 Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại. 

3. Năm 2009: Dân ca Quan họ Bắc Ninh

Vào mỗi dịp xuân về và khi mùa thu đến, người dân làng Quan họ gốc thuộc Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay, dù ở đâu cũng sẽ trở về quê hương để trẩy hội đình, hội chùa, những lễ hội độc đáo gắn liền với trình diễn Quan họ từ bao nhiêu đời nay. 

Dân ca Quan họ là một hình thức hát giao duyên. Những liền chị duyên dáng trong bộ áo mớ ba, mớ bảy, đầu đội nón thúng quai thao và những liền anh trong trang phục truyền thống khăn xếp, áo the, cùng nhau hát đối những câu ca mộc mạc, đằm thắm, không cần nhạc đệm mà vẫn đầy chất nhạc, thể hiện sự tinh tế của người Quan họ. 

Theo quan niệm của người Quan họ, nghệ nhân là những người có kỹ năng hát “vang, rền, nền, nẩy” rất điêu luyện. Họ chính là những người có công lao rất lớn trong việc sáng tạo, duy trì và lưu giữ những di sản quý báu cho các thế hệ mai sau biết đến nên rất xứng đáng được tôn vinh. 

Ngày 30/9/2009, UNESCO đã chính thức công nhận Quan họ là di sản văn hóa phi vật thể của thể giới.

4. Năm 2009: Ca trù 
Ca trù có nguồn gốc từ rất xa xưa, theo sử thì có từ 700 năm trước, theo dân gian thì đã có từ 1000 năm. Thời kỳ hưng thịnh nhất là từ thế kỷ 15, có lúc được xem như là một loại ca trong cung đình và được giới hoàng thân, quý tộc, văn nhân, tài tử rất yêu thích. Ca trù được xem là loại hình nghệ thuật phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc. 

Ca trù là dạng nghệ thuật biểu diễn dùng nhiều thể văn chương như: thể phú, thể truyện, thể ngâm và phổ biến nhất là hát nói. Ca trù có nhiều tên gọi khác nhau, tùy từng thời điểm mà hát Ca trù còn gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hát nhà tơ,... Ca trù luôn gắn liền với các đào nương , không có đào nương bất thành Ca trù, khi nói đến Ca trù không thể không nói tới đào nương. 

Sự tồn tại của ca trù được quyết định bởi các đào nương. Vì thế, để trở thành một đào nương hay còn gọi là ca nương thì đó là chuyện không hề dễ dàng, có những tiêu chuẩn cực khắt khe như giọng hát, năng khiếu âm nhạc (thẩm âm, gõ phách), tri thức âm nhạc và văn thơ, lòng đam mê và sự kiên trì. Các đào nương chính là những người thể hiện và truyền tải những cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của Ca trù, giúp Ca trù tồn tại cho đến ngày hôm nay.  

Ngày 1/10/2009, Ca trù được UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

5. Năm 2010: Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc

Hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc gắn với truyền thuyết về một cậu bé được mẹ sinh ra một cách kỳ lạ ở làng Phù Đổng. Năm lên 3 tuổi vẫn chưa biết nói, biết cười, cậu chỉ nằm trong thúng treo trên gióng tre, nên được mẹ đặt tên là Gióng. Đến khi nghe lời kêu gọi của nhà Vua là tìm được người tài giỏi đi đánh trận thì cậu bé Gióng bỗng lớn nhanh như thổi, rồi xung phong đánh dẹp tan quân giặc ngoại xâm. Sau khi chiến thắng, cậu về núi Sóc rồi cưỡi ngựa bay lên trời. 

Từ đó về sau, mọi người xem cậu bé Gióng là ngài Gióng được thiêng hóa thành một vị Thánh bất tử bảo hộ mùa màng, hòa bình cho đất nước, thịnh vượng cho người dân. Để tưởng nhớ công lao to lớn của ngài, người dân đã lập đền thờ, mở hội hằng năm với tên gọi Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc. Đây được xem là một lễ hội lớn nhất vùng châu thổ Bắc bộ.

Tháng 11 năm 2010, hội Gióng ở đền Phù Đổng (Gia Lâm) và đền Sóc (huyện Sóc Sơn) đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

6. Năm 2011: Hát Xoan 

Hát Xoan là loại hình dân ca nghi lễ phong tục, hát cửa đình hay “Khúc môn đình”, là hình thức nghệ thuật đa yếu tố: Ca nhạc, múa phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng, thường biểu diễn vào dịp đầu xuân. 

Hát Xoan còn có tên gọi khác là Hát Lãi Lèn, Hát Đúm, Hát Thờ, Hát Cửa đình bắt nguồn từ hình thức hát thờ các Vua Hùng. Đây là một trong những nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân tỉnh Phú Thọ.

Hát xoan hội đủ các yêu cầu cần thiết để được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đó là hình thức âm nhạc cổ, kết hợp được yếu tố văn hóa, lịch sử và nghệ thuật, độc đáo ở lời ca, giai điệu và làn điệu; chứa đựng nhiều giá trị văn hóa và được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế kỷ, không bị biến mất trong đời sống hiện đại.

Ngày 24/11/2011, Hát Xoan được UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể.

7. Năm 2012: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ

“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba”

Câu ca dao mà bất kỳ ai là người Việt Nam đều biết đến cho thấy ý nghĩa thiêng liêng và quan trọng của ngày giỗ tổ Hùng Vương trong tâm trí của mỗi người dân Việt. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của dân tộc ta đã vượt qua khỏi ranh giới quốc gia và trở thành di sản văn hóa chung của cả nhân loại. 

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được bắt nguồn từ vùng đất cổ Phú Thọ, khu di tích lịch sử đặc biệt quốc gia ở núi Nghĩa Lĩnh, là biểu hiện cụ thể và đặc trưng nhất của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Tín ngưỡng này được các các triều đại trong lịch sử ghi chép vào sử sách như: định lễ nghi, ban sắc phong, cấp ruộng đất… phục vụ cho việc thờ phụng. Ngày nay, Giỗ Tổ Hùng Vương được quy định là ngày Quốc lễ của dân tộc Việt Nam. 

Giá trị của di sản không phải là di tích Đền Hùng hay hệ thống đền miếu cả nước mà chính là nghi lễ thờ phụng, thực hành tín ngưỡng với các nghi lễ như: rước kiệu, lễ vật dâng cúng là bánh chưng, bánh dày tiêu biểu cho nền văn minh lúa nước, hành hương về nguồn... Sau phần lễ, đến phần hội cũng rất đặc sắc, đó là thi gói bánh chưng, giã bánh dày, diễn xướng dân gian, múa rối nước, hát xoan, bơi chải… 

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhưng ý thức về độc lập tự chủ, bảo vệ quyền lợi quốc gia được tất cả người Việt nối tiếp nhau duy trì, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cho Tổ quốc, tạo nên một giá trị đặc trưng riêng về ý thức cội người của người Việt. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành bản một sắc văn hóa, đạo lý, truyền thống tốt đẹp, được người dân thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với tổ tiên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Vào ngày 6/12/2012, tại kỳ họp lần thứ 7, Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. 

8. Năm 2013: Đờn ca tài tử Nam bộ 

Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của người Việt Nam. Được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19. Đờn ca tài tử bao gồm đờn (đàn) và ca, do những người bình dân Nam bộ sáng tác để hát phục vụ việc giải trí sau những giờ lao động vất vả. 

Các bài nhạc của Đờn ca tài tử được sáng tạo dựa trên cơ sở nhạc lễ, nhạc cung đình, nhạc dân gian miền Trung và Nam. Nhạc cụ được sử dụng trong Đờn ca tài tử gồm: đàn tranh, đàn kìm, đàn cò, đàn tỳ bà, đàn tam, sáo, tiêu, song loan,... 

Đờn ca tài tử được thực hiện theo nhóm, câu lạc bộ và gia đình, ít khi nhạc công độc tấu mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Dàn nhạc thường ngồi trên một bộ ván hay chiếu để biểu diễn với phong cách thảnh thơi, thoải mái. 
Đờn ca tài tử được truyền dạy theo 2 hình thức: truyền khẩu trực tiếp hay truyền ngón. Đối với người dân miền Nam, Đờn ca tài tử gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần không thể thiếu của người dân trong các dịp lễ hội, tết, giỗ, cưới, sinh nhật, họp mặt,... Lễ giỗ Tổ được tổ chức hàng năm vào ngày 12/8 âm lịch. 

Tháng 12/2013, tại phiên họp lần thứ 8 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể diễn ra tại Baku (Azecbaijan), Di sản Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được ghi tên vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

9. Năm 2014: Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh

Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ Tĩnh là 2 lối hát dân ca không có nhạc đệm, do cộng đồng 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo và lưu truyền trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt. 

Loại hình nghệ thuật dân gian này đã không ngừng phát triển và đã trở thành bản sắc riêng của người dân xứ Nghệ. Dân ca Ví, Giặm được thực hành trong cuộc sống, lúc lao động, lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc quay tơ, dệt vải, đi củi, trèo non. Các lối hát vì vậy được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt như: Ví phường vải, Ví phường đan, Ví trèo non, Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên,... Hai lối hát dân ca thường được hát xen kẽ cùng nhau nên có tên gọi là Dân ca Ví, Giặm.

Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ là sự kết tinh khả năng sáng tạo lời ca, lối hát, giai điệu  mang tính ngẫu hứng, vừa có thủ tục và quy cách cụ thể của các cộng đồng người Nghệ Tĩnh, đặc biệt là sự đóng góp của các nho sĩ, các nhà khoa bảng, các danh sĩ, sĩ phu yêu nước. Với nội dung đa dạng, những vần thơ cô đọng, súc tích, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ hát, ngôn từ phong phú, bài hát do họ sáng tác, thấy được chặng đường lịch sử dân tộc đã đi qua. Sự hấp dẫn của Dân ca Ví, Giặm nằm ở sự tôn trọng việc tự do thể hiện tư tưởng, tình cảm bằng lời ca tiếng hát, bằng ngôn ngữ địa phương. 

Dân ca Ví, Giặm chiếm một vị trí quan trong trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Nghệ Tĩnh và cũng là phương tiện nghệ thuật đặc trưng xứ Nghệ để biểu đạt tư tưởng, tình cảm, tăng cường giao lưu, gắn kết cộng đồng.
Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trong phiên họp ngày 27/11/2014 tại Paris, Pháp

10. Năm 2015: Nghi lễ và trò chơi kéo co

Ở Việt Nam, nghi lễ và trò chơi kéo co tập trung hầu hết ở vùng trung du, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, nơi được xem là vùng đất tụ cư lâu đời của người Việt, là cái nôi của nền văn minh lúa nước.

Kéo co thường được tổ chức trong các lễ hội xuân, đánh dấu một sự khởi đầu của một vụ mùa mới trong nông nghiệp và thể hiện mong muốn mùa màng bội thu. Kéo co thu hút sự tham gia của gần như tất cả các thành viên trong cộng đồng, mỗi thành viên đóng vai trò khác nhau như người trực tiếp tham gia kéo co, trọng tài, người hướng dẫn, người cổ vũ…

Nghi lễ và trò chơi kéo co thường được tổ chức ở sân đình. Dây kéo sử dụng trong kéo co có thể được làm bằng song tre, dây mây, gai dầu phản ánh nền văn hóa khác nhau của mỗi cộng đồng. Một trận kéo co diễn ra có 2 đội tham gia với số người bằng nhau. Hai đội cùng nắm vào dây kéo, điểm ở giữa dây được đánh dấu bằng một vải lụa đỏ là mốc. Khi có hiệu lệnh bắt đầu, 2 đội sẽ cố gắng kéo được điểm đánh dấu về phía đội mình trước chính là đội thắng cuộc. 

Vào ngày 2/12/2015, Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO đã ghi danh nghi lễ và trò chơi kéo co ở Việt Nam vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. 

11. Năm 2016: Thực hành tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt

Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là một hình thức thờ cúng người Mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi được hình thành trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Nữ thần. Từ thế kỷ 16, tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân, đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống con người.

Chủ thể di sản là thủ nhang, thầy cúng, thanh đồng, hầu dâng, cung văn, con nhang đệ tử cùng với cộng đồng cư dân có chung một niềm tin vào quyền năng, sức mạnh tối linh, sự bảo trợ của các Mẫu, đứng đầu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, gắn bó với nhau thành bản hội, cùng nhau thực hành nghi lễ thờ cúng, tham gia lễ hội, lên đồng tại các phủ, điện Thờ Mẫu. 

Nghi lễ chính, trung tâm của Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là nghi lễ lên đồng – được hiểu là một hình thức diễn xướng dân gian, thể hiện đức tin về sự giáng/nhập của các vị thần trong điện thần của Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ. Các giá đồng bao gồm hát văn, trang phục, múa thiêng được kế hợp một cách hài hòa, thể hiện sự giáng đồng của các vị thánh mang tính tâm linh và biểu tượng. 

Những người thực hành tin rằng, bằng hình thức diễn xướng này, họ có thể giao tiếp được với các đấng thần linh để gửi gắm, biểu đạt những mong muốn, khát vọng của mình thông qua các thầy đồng - người đóng vai  trò trung gian giữa con người và thần linh.

Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, lan tỏa và được thực hành ở nhiều địa phương trong cả nước. 

Ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, nước Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. 

12. Năm 2017: Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ

Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam là một loại hình nghệ thuật đa dạng, kết hợp âm nhạc cùng với thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học. Bài chòi có hai hình thức chính: “Chơi Bài chòi” và “Trình diễn Bài chòi”. Xuất hiện ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Đà Nẵng.

Nghệ thuật Bài chòi là một hình thức giải trí trong cộng đồng làng xã, có sức hấp dẫn với công chúng, trở thành sinh hoạt văn hóa thiết yếu và phổ biến khắp miền Trung. Các thành tố văn hóa nghệ thuật: thơ ca, âm nhạc, hội họa, ngôn ngữ, tập tục… trong Nghệ thuật Bài chòi được chuyển tải một cách giản dị, tự nhiên. 

Với khả năng trao truyền các tri thức văn hoá dân gian thông qua trò chơi và việc trình diễn. Bài chòi đã trở thành hình thức sinh hoạt cộng đồng mang tính giáo dục cao, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ..

Vào ngày 7/12/2017, tại Phiên họp Uỷ ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Jeju, Hàn Quốc, di sản Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

13. Năm 2019: Hát Then 

Hát then là một thể loại dân ca tín ngưỡng của cộng đồng người Choang, dân tộc Tày, Nùng, Thái. Mang trường ca, mang màu sắc tín ngưỡng thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin Ngọc hoàng giải quyết một vấn đề gì đó cho gia chủ.

Âm nhạc là yếu tố xuyên suốt cuộc hát then. Hát then có nhiều bài bản, làn điệu. Người Tày, người Nùng không kể tuổi tác, giới tính, những người mê tín cũng như không mê tín rất thích nghe hát then.

Lời hát theo hình thức diễn xướng tổng hợp ca nhạc Đàn tính, múa, diễn với nhiều tình huống khác nhau. Đảm nhiệm chức năng của một diễn viên tổng hợp. Họ vừa hát, tự đệm, vừa múa và diễn để thể hiện nội dung câu hát, đôi khi còn biểu diễn cả những trò nhai chén, dựng trứng, dựng gươm...

Di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái tập trung chủ yếu ở 11 tỉnh miền núi phía Bắc là: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang (vùng Đông Bắc), Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai (vùng Tây Bắc) và một số địa phương khác ở Việt Nam.

Then là một thực hành nghi lễ không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, phản ánh các quan niệm về con người, thế giới tự nhiên và vũ trụ. Then luôn luôn được trao truyền bằng truyền khẩu khi thực hành nghi lễ Then, thể hiện sự kế tục giữa các thế hệ. Các thầy Then đóng vai trò chính yếu trong việc chuyển giao các kỹ năng và bí quyết liên quan, một số thầy Then thực hiện khoảng 200 nghi lễ Then một năm.

Lúc 15h23 ngày 12/12/2019 giờ địa phương (tức 3h23 ngày 13-12 giờ Việt Nam), tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 14 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra tại Bogotá, Colombia, di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Văn hóa phi vật thể luôn mang màu sắc dân gian, có sự gắn bó chặt chẽ, đồng hành với đời sống và trở thành những di sản sống, những giá trị sống hài hòa với tự nhiên, chứa đựng trong lòng nó một thái độ và một hệ thống những hành vi ứng xử giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên trong một mối quan hệ hòa hợp, thân thiện vốn không thể tách rời. 

Kim Huyền


THÔNG TIN LIÊN HỆ

0909 081 263

Gửi yêu cầu để được tư vấn.

Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn.

Tour hot

Hotline tư vấn: 0909081263
Zalo