VIET THANG TRAVEL KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH
VIET THANG TRAVEL KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH

LỄ HỘI CẦU NGƯ - NÉT VĂN HÓA ĐẶC TRƯNG CỦA CƯ DÂN VÙNG BIỂN

Lễ hội Cầu ngư là một sản phẩm văn hóa đặc trưng của cộng đồng cư dân vùng biển dọc Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, nơi cuộc sống người dân gắn liền với biển và tín ngưỡng thờ cúng cá Ông. Đối với đời sống cộng đồng cư dân biển, Lễ hội Cầu ngư là lễ lớn nhất trong năm, vì đây là lễ hội cầu mùa - cầu ngư hay lễ tế ngư thần và cầu xin thần ban cho một năm “trời yên biển lặng, tôm cá đầy khoang”. 

Giới thiệu về lễ hội Cầu Ngư

Lễ hội cầu ngư là một hình thái sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc biệt. Lễ hội này là dịp để ngư dân - những con người luôn phải đối mặt với nhiều bất trắc khi lênh đênh trên biển cả thể hiện khát vọng được bình yên trong cuộc sống. Lễ hội cầu Ngư có nhiều tên gọi khác nhau như lễ hội nghinh Ông, lễ rước cốt Ông, lễ tế cá Ông, lễ cúng Ông, lễ nghinh ông Thuỷ tướng, nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá "Ông" là sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung.

Lễ hội Cầu Ngư bắt nguồn từ tục thờ Ông Nam Hải – là tập tục lâu đời của cư dân vùng biển từ Quảng Bình trở vào, trong đó phải nhắc đến nhiều nhất là vùng Nam Trung bộ. Ông Nam Hải, thực ra là loài cá Voi – loài cá có thân hình to lớn, nhưng bản tính lại hiền hoà, thường cứu giúp những ngư dân mỗi khi gặp nạn trên biển được ngư dân các tỉnh phía Nam gọi cá ‘Đức Ông’,‘Cá Ông’ hay ‘Ông Nam Hải’. Khi Cá Ông chết, trôi dạt vào bờ thuộc địa phận của làng biển nào, thì làng biển ấy phải tổ chức lễ tang long trọng và lập Lăng thờ phụng và cúng tế rất nghiêm cẩn. Lễ tế Ông Nam Hải ngày nay thường được gọi là Lễ hội Cầu Ngư. 

Những truyền thuyết về tục thờ “cá Ông”

Tục thờ Cá Ông ra đời từ bao giờ và đâu là nơi phát tích đến nay vẫn chưa thể khẳng định chính xác. Để giải thích cho tục thờ Cá Voi có nhiều truyền thuyết, trong đó một số truyện thuyết, chuyện kể vẫn còn được lưu truyền cho đến hôm nay:

Trong thần thoại Chăm kể lại: Sau thời gian rèn luyện phép thuật vì nôn nóng trở về xứ sở, Cha-Aih-Va đã cãi lời thầy tự ý biến thành cá voi, ra sông lớn mà đi nên sau đó đã bị trừng phạt. Cha-Aih-Va đổi tên và tự xưng là Po Riyah (thần Sóng Biển), cũng có lúc hoá thân thành thiên nga, trở thành ân nhân của những người bị đắm thuyền.

Truyền thuyết Phật giáo kể rằng: Ngày xưa, Đức Phật Bà Nam Hải Quan Âm, khi đi tuần du Nam Hải, Ngài rất đau xót khi mỗi mùa biển động, bão tố, nhiều thuyền nhân và ngư dân bị đắm thuyền và chết trôi trên biển cả. Để cứu giúp những sinh linh, Ngài liền lấy chiếc áo cà sa đang mặc và xé ra làm ngàn mảnh nhỏ ném xuống biển khơi, rồi hoá phép thành loài cá Voi có thân hình to lớn, lại ban cho cả “Phép thâu đường” để bơi thật nhanh nhằm kịp đến cứu giúp người bị nạn. Từ đó, loài cá Voi luôn là trợ thủ đắc lực trong việc cứu giúp người bị nạn trên biển. Do vậy, người dân miền biển các tỉnh phía Nam nước ta xem loài cá Voi là vị thần linh của biển khơi.

Cũng có truyền thuyết cũng kể, trên đường bôn tẩu đến nước Xiêm để tránh cuộc truy đuổi của Nhà Tây Sơn, khi đến Vịnh Xiêm La thì gặp giông tố, lúc thuyền của Chúa Nguyễn Phúc Ánh sắp bị lật đã được Cá Ông nâng đỡ và đưa vào  đảo Thổ Châu. Năm 1802, sau khi lên ngôi Nguyễn Ánh (Vua Gia Long) đã ban chiếu sắc phong Cá Voi là Nam Hải Đại Tướng Quân để tỏ lòng tri ân. Các vua chúa triều Nguyễn đã liên tiếp ban những sắc phong cao quý cho Cá Voi này và sắc phong cao nhất cho Ngài là: “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần”

Riêng ở thôn Quảng Hội (xã vạn Thắng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà) lại có truyền thuyết liên quan đến Quan Công và ông Nam Hải. Truyền thuyết kể rằng, một con phượng hoàng đẻ ra hai trứng, một trứng rớt xuống biển Đông hóa thành ông Nam Hải (cá voi) và trứng kia rơi trên đất liền, được một vị hòa thượng ấp trong đại hồng chung, sau 100 ngày nở ra Quan Thánh…

Lễ hội Cầu Ngư của ngư dân một số tỉnh vùng biển miền Trung

Lễ hội cầu ngư đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống của người dân ven biển ở mỗi tỉnh thành của miền Trung, ở mỗi nơi lại có cách tổ chức lễ hội Cầu Ngư khác nhau.

Lễ hội cầu Ngư ở Quảng Nam thường được tổ chức ở hầu hết các làng xã ven biển với ý nghĩa gần giống nhau nhưng quy mô tổ chức và thời gian tổ chức lại tùy thuộc vào từng địa phương.

Theo truyền thống, lễ hội được diễn ra trong thời gian 3 ngày đêm. Ngày đầu tiên diễn ra nghi thức lễ cúng trần thiết bài vị, rồi tiến hành theo Lễ nghinh Ông; ngày thứ hai diễn ra nghi thức đại lễ tế thần. Phần hội gồm có chèo bả trạo, hội xây chầu hát bội, hát dân ca và các trò chơi dân gian của ngư dân miền biển, diễn ra trong ngày thứ ba và có sự đan xen trong thời gian hành lễ của ngày đầu tiên và thứ hai. Thông thường lễ hội nghinh Ông có lễ rước và lễ tế truyền thống. Lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền ra biển. Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con nghênh đón. Cùng với thuyền rước Thuỷ tướng, có nhiều ghe lớn nhỏ tháp tùng ra biển. Đoàn rước quay về bến nơi xuất phát, rước Ông về lăng. 

Lễ tế diễn ra trang trọng sau lễ rước với nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông. Lễ chánh tế được tiến hành vào lúc nửa đêm ngày thứ hai bước sang sáng ngày thứ ba. Bắt đầu buổi Lễ cầu Ngư, vị chủ xướng tuyên bố khởi lễ. Sau phần giới thiệu là bài văn tế kể về quá trình hình thành vùng đất quê hương và ý nghĩa thiêng liêng của tục lệ cầu Ngư. Tất cả mọi người dự lễ đều thành kính dâng trọn niềm tin sâu sắc và lòng biết ơn đối với biển. Phần tế đủ nghi thức lễ lục cúng, đọc văn tế ca ngợi công đức của thần, cầu xin cho thần ban cho một mùa bội thu, thuyền ra khơi xuôi chèo mát mái, khi trở về tôm cá đầy ghe.

Phần tiếp theo là Lễ cúng, dâng lên bàn thờ mâm lễ vật gồm hoa quả, heo quay và một số món khác nhưng tuyệt nhiên không có bất kỳ loại hải sản nào. Khi vị chủ lễ lên chủ trì phần cúng thì có một vị cao niên, tinh thần minh mẫn, trí tuệ đọc bài văn cúng gồm có ba phần: mở đầu là cúng cá Ông, tiếp theo là Lễ cúng Tiền hiền, Hậu hiền, những bậc tiền nhân có công lập nên làng xã và cuối cùng là cúng âm linh cô bác còn gọi là cô hồn, âm hồn. Nội dung văn tế cô hồn biểu hiện sự thương yêu cho những kẻ bất hạnh và lòng nhân ái của con người đối với những vong hồn người khốn khổ đã khuất. Lễ cúng kéo dài gần một giờ, sau đó là phần Hội cầu Ngư.

Trong Lễ hội cầu Ngư, nếu phần Lễ diễn ra long trọng, trang nghiêm, thành kính thì phần Hội lại diễn ra vui vẻ, náo nhiệt và lôi cuốn rất nhiều người tham gia. Trong phần Hội cuốn hút nhất là màn diễn xướng dân gian hết sức độc đáo là hát múa bả trạo. Hát bả trạo ở Quảng Nam là một hình thức diễn xướng tập thể trên cạn. Nội dung và ý nghĩa của những cuộc diễn xướng, hát múa bả trạo ở Quảng Nam đều xoay quanh việc ca ngợi và bày tỏ niềm tiếc thương đối với cá Ông. Lòng thành kính đối với cá Ông được thể hiện rõ nét trên khuôn mặt của những người tham gia diễn xướng. Tất cả họ đều nghiêm trang, nhịp nhàng chèo chiếc thuyền linh thiêng, đưa cá Ông về miền cực lạc. Ngoài nghi thức dân gian đối với cá Ông ra, hát bả trạo còn thể hiện những tâm tư, tình cảm mộc mạc, chân thành của những ngư dân vùng biển đối với thiên nhiên, đối với đại dương bao la mênh mông sóng nước, cầu mong cho trời yên, bể lặng, sóng nước hiền hòa, những chuyến ra khơi thật sự thanh bình, cá tôm đầy ắp. Ngoài hát bả trạo, trong lễ hội cầu ngư ở Quảng Nam còn có tổ chức đua thuyền nhận giải thưởng.

Tại Quảng Bình: So với các tỉnh, thành khác, lễ hội "Cầu ngư" ở làng biển Quảng Bình tích hợp nhiều hình thức nghệ thuật truyền thống, diễn xướng dân gian, mang bản sắc và đặc trưng riêng. lễ rước kiệu Thành hoàng tại đình thờ tổ và nghi lễ đọc văn tế Thần Ngư ở Linh Ngư miếu luôn là phần độc đáo nhất trong lễ hội "Cầu ngư". Đội hình rước kiệu gần ba, bốn trăm người trong những bộ trang phục truyền thống đẹp mắt. Cùng với đó, cảnh cờ, lọng, kiệu, hoa… và mô hình con thuyền, cùng đoàn lân sư rồng đã mang đến không khí lễ hội sôi động. Hò khoan - chèo cạn của cũng khác biệt, đó là lối ca hát mộc mạc, kể chuyện dân gian có âm thanh, nhịp điệu chắc khỏe và động tác chèo cạn khoan thai, mạnh mẽ của những ngư dân trên chiếc thuyền tượng trưng hướng ra khơi.

Màn chèo cạn - hò khoan được kết hợp từ lời ca, giai điệu của những làn điệu mượt mà, trữ tình (gồm mái ba, mái nện, hò khoan) hòa với nhạc đệm, tiếng phách, tiếng nhịp và chèo cạn duyên dáng, uyển chuyển của các thôn nữ, tạo nên buổi tổng hòa các thể loại ca-múa-hát say đắm lòng người…

Về với "Cầu ngư" của Quảng Bình sẽ bắt gặp điệu múa chạy chữ (hay múa động đăng), tạo nét vô cùng “lạ” cho lễ hội vùng quê ven biển này. Đây là hình thức múa tập thể, các thành viên cầm đèn bông vừa múa, vừa sắp xếp thành các chữ Hán “thiên-hạ-thái-bình”, “cầu ngư-đắc lợi”… nhằm cầu chúc cho cả “thiên hạ”, đất nước được yên bình, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Điệu múa cổ đòi hỏi người múa phải rất dẻo dai, linh hoạt trong động tác di chuyển, kết hợp và ăn nhập với âm nhạc từ các nhạc cụ dân tộc, như: kèn, sanh tiền, xập xèng, trống… 

 Lễ hội Cầu Ngư Đà Nẵng được tổ chức gồm hai phần: phần lễ bao gồm Lễ Nghinh Ông, lễ cầu an, cầu ngư trên biển tưởng nhớ các bậc tiền nhân quá cố và cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cầu một mùa đánh bắt hải sản thắng lợi. Phần hội với các trò chơi, phần thi văn hóa văn nghệ và thể thao thể hiện sự đoàn kết giữa các ngư dân khi lênh đênh trên biển cả.

Tại khu vực lễ đài chính được trang trí long trọng, bao gồm các chiếc ghe, thuyền bằng gỗ – biểu trưng của những chiếc ghe. Bên cạnh các hoạt động lễ hội còn có nhiều hoạt động trưng bày, giới thiệu về nghề ngư nghiệp của ngư dân, “Đà Nẵng – di sản văn hóa biển đảo”, các gian hàng sản phẩm chế biến từ hải sản của bà con ngư dân …

Đồng thời, trưng bày tranh ảnh giới thiệu “Hoàng Sa trong thư tịch cổ Việt Nam thời Nguyễn” với những bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam. Cũng trong dịp này, ngoài ra còn có thêm các môn thể thao biển truyền thống như: thi đan lưới, kéo co, ngoáy thúng, gánh cá..., đi kèm đó là các hoạt động văn hóa-nghệ thuật như: Hô hát bài chòi, hát bả trạo, hát tuồng... 

Lễ hội cầu ngư Phú Yên được tổ chức một cách long trọng tại lăng Ông. Đây chính là nơi diễn ra hầu hết các nghi thức cúng tế trong lễ hội cầu ngư. Lễ hội cầu ngư Phú Yên thường được tổ chức ít nhất hai ngày. Chiều ngày thứ nhất, sẽ tiến hành làm lễ rước Ông sanh (Nghinh Ông). Theo đó, ngư dân đưa kiệu ra cửa biển rước Ông và các vị thủy thần về dinh lăng an vị. Đến sáng sớm ngày thứ hai, lễ hội được tiếp tục bằng các lễ cúng yết, dâng lễ vật, dâng trầu rượu. Trưa và chiều tối của ngày thứ hai là thời gian tổ chức lễ cúng khai tiên. Chi phí cúng tế do bà con nhân dân tự đóng góp. 

Bên cạnh phần nghi lễ đặc sắc, các hoạt động diễn xướng dân gian chính là nét nổi trội làm nên thành công của lễ hội cầu ngư. Mà trước tiên phải kể đến loại hình nghệ thuật hát bả trạo. Hát bả trạo còn được gọi là hò đưa linh, chèo cầu ngư, hát bạn chèo đưa ông. Đây là loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian không thể thiếu trong mỗi lễ hội cầu ngư Phú Yên. Ngoài ra, lễ hội cầu ngư còn có những loại hình nghệ thuật như hát tuồng (hát bội). Cùng với đó là các hoạt động thể thao vô cùng sôi nổi như: đua thuyền, đua sõng, lắc thúng chai, đi cà kheo, kéo co, đấu võ cổ truyền,… Tất cả tạo nên một lễ hội trang nghiêm nhưng sôi động bậc nhất mà du khách không thể bỏ qua mỗi khi đến thăm vùng đất Phú Yên.

Tại Quảng Ngãi, Lễ hội Cầu ngư là lễ hội dân gian truyền thống của ngư dân (còn gọi là “Lễ ra quân đánh bắt thủy sản", hoặc "Lễ ra quân nghề cá") được tổ chức vào dịp đầu năm mới với ý nghĩa cầu mong cho mùa màng bội thu, yên bình trong cả năm lênh đênh trên biển cả. Trình thức lễ hội cầu ngư bao gồm các lễ thức: Tế cáo thần linh khai lạch, lễ ra nghề, và các trò diễn. “Lễ tế cáo” là lễ thức mà tất cả các ban tế tự của làng và đại diện các chủ thuyền tế cáo ở lăng Ông, miếu Bà (Thiên Y, Thủy Long), miếu Thổ thần, Nghĩa tự và gia tiên để khai lạch ra khơi.

Lễ tế cáo chỉ đơn giản là trầm trà hoa quả và diễn ra trong chiều ngày mùng 2 Tết hoặc sáng sớm ngày mùng 3 Tết. “Lễ ra nghề” là vào sáng sớm ngày mùng 3 Tết, tất cả các thuyền trong các vạn tập trung tại cửa biển, chong đèn kết hoa rực rỡ, bày bàn soạn lễ vật trên thuyền, các loại ngư cụ... Sau khi đại diện chính quyền, hội nghề cá khai mạc và tổng kết nghề đánh bắt hải sản một năm cũng như kế hoạch thực hiện trong năm mới, ông chủ vạn gióng tiếng trống báo hiệu lễ ra nghề bắt đầu. Chiếc thuyền đầu tiên ra khơi là chiếc thuyền được ban vạn bầu chọn (không gặp bất trắc gì trong năm cũ, gia đình hòa thuận, chủ thuyền có uy tín...), và sau đó là hàng trăm chiếc thuyền nối tiếp ra khơi. Ra đến cách bờ chừng vài hải lý, các thuyền lại thực hiện nghi thức tế cáo thần linh, và đánh mẻ lưới làm phép đầu tiên. Sau khi vớt mẻ lưới lên các thuyền quay lại vào bờ. “Các trò diễn” là khi tất cả các thuyền đã quay lại vào bờ, các trò diễn, như đua thuyền, thi lắc thúng, thi đánh bóng chuyền... mới bắt đầu diễn ra. Có năm trong dịp làm lễ cầu ngư, người dân Quảng Ngãi còn tổ chức hát bội vài ba ngày. Vài ba năm trở lại đây, trong lễ hội cầu ngư người dân địa phương còn tổ chức múa hát bả trạo và hát sắc bùa.

Tại Khánh Hòa lễ hội Cầu ngư có rất nhiều nghi thức được diễn ra trong ba ngày đêm, trong đó có những nghi thức riêng có như: Lễ Nghinh Ông (Lễ Nghinh thủy triều), trò diễn Hò Bá trạo – những nghi thức lễ nhưng đầy tính chất hội hè ấy, đã tạo nên đặc trưng cho Lễ hội Cầu ngư của vùng Nam Trung bộ nói chung và Khánh Hòa nói riêng. Ở Khánh Hòa, các sắc phong Ông Nam Hải thường không đặt tại Lăng mà được cất giữ tại Nhà Tiền hiền hoặc giao cho một hào lão có uy tín trong làng gìn giữ gọi là ‘Thủ sắc’, khi có lễ hội thì mới rước sắc về Lăng tổ chức bái tế. Do vậy, Lễ Rước sắc được xem như nghi thức mở đầu của Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa. Ngày nay, do xu hướng giản lược các nghi thức cổ truyền trong lễ hội, một số làng biển đã sáp nhập Đình làng và Lăng Ông làm một trong thờ tự và cả bái tế. Cũng từ đó, nhiều nơi đã không còn giữ được Lễ Rước sắc theo nghi thức cổ truyền mà chỉ giữ lại phần Lễ Khai sắc – một nghi thức bắt buộc trước khi vào lễ hội. Nếu như Lễ Rước sắc là nghi thức được sử dụng chung cho nhiều lễ hội mà nơi tổ chức hoặc vị Thần chủ được bái tế trong lễ hội ấy có sắc phong vua ban, thì Lễ Nghinh Ông là nghi thức riêng có của Lễ hội Cầu Ngư.

Lễ Nghinh Ông ở Khánh Hòa thường được tổ chức vào giờ thủy triều lên nên còn gọi là ‘Lễ nghinh thủy triều’. Lễ được thực hiện nhằm mục đích rước hồn Ông Nam Hải từ biển khơi về Lăng trước khi Tế chánh,  nghi thức này còn được gọi là ‘Phụng nghinh hồi đình’. Do Lễ hội Cầu Ngư ở các làng không trùng nhau về thời gian mà theo tập tục lễ nghinh Ông phải tùy theo con nước lên, nên giờ tiến hành lễ của mỗi làng cũng mỗi khác. Nhưng đa phần Lễ Nghinh Ông ở Khánh Hòa đều được tổ chức vào sáng sớm – là thời điểm mặt trời lên cũng như nước triều lên. Lễ Nghinh Ông thường kéo dài trong khoảng hai giờ. Đoàn thuyền tham dự Lễ Nghinh Ông ở Khánh Hòa gồm có: ghe lễ là ghe chính được trang trí trang hoàng lộng lẫy,  2 chiếc ghe bả trạo đi 2 bên ghe lễ và ghe dắt à chiếc ghe nhỏ chở đội Lân, ghe này phải nối với ghe lễ một sợi dây và có nhiệm vụ dẫn đầu đám rước. Nhiều nơi không tổ chức ghe dắt thì  đội Lân sẽ ở trên Ghe lễ. 

Bên cạnh lễ Nghinh Ông thì lễ sắc phong thu hút đông đảo sự tập trung, tham gia của người dân nhất. Đám rước sắc phong chia làm hai đoàn, một đi từ phía Bắc, một đia từ phí Nam, hai đoàn đều đi hướng về khu Lăng Ông. Dẫn đầu mỗi đoàn là đội múa lân, sư, rồng. Vừa về huyên náo không khí, lại để trừ tà ma tránh đường theo suy nghĩ của người dân. Tiếp sau đoàn múa lân là mô hình thuyền lướt sóng trên biển. Một con thuyền treo cờ phấp phới, bên trên là các những ngư dân đang mô phỏng động tác chèo thuyền, hò dô, đẩy lái. Mô hình thuyền này được gánh trên vai hàng chục thanh niên trai tráng khác, mặc quần áo xanh tượng trưng cho biển cả. Một hình ảnh trực quan vô cùng sống động đã được người dân hiện thực hóa theo cách tâm linh khá thú vị. Đi cuối đoàn rước là các thành viên tham gia lễ rước, mặc quần áo thiết kế theo lối cổ xưa, tay cầm cờ, binh khí chính tề xếp hai hàng đều bước. Rước đoàn đến đâu, cờ trống inh ỏi, rộn rã cả một góc xóm đến đấy. Đoàn rước phải canh giờ sao cho vừa đến cửa Lăng thì cũng là lúc diễn ra nghi thức nhập lăng của Ông Hải Nam. Sau khi nhập lăng thì đội múa lân sẽ múa lần cuối, tiếp đến là phần hát bả trạo rồi đến hát chầu. Kết thúc phần lễ thỉnh, báo cáo kết quả năm trước, cầu an cho năm nay thì lại rước Ông ra biển. Lúc này ngoài khơi đã đậu sẵn hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang trí cờ hoa sẵn sàng chờ lệnh Ông rồi.

Lễ hội Cầu ngư không chỉ mang đến cho người dân địa phương một lễ hội truyền thống mà còn tuyên truyền, quảng bá về ý nghĩa của di sản lễ hội Cầu ngư, tạo điểm nhấn về hoạt động văn hóa, lễ hội ở địa phương. Bên cạnh đó lễ hội Cầu ngư cũng là cách thể hiện lòng thành kính, tưởng nhớ các bậc tiền nhân có công lập miếu, đền, lăng thờ cá Ông, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, tàu thuyền thuận buồm xuôi gió, mùa màng bội thu, cuộc sống của nhân dân ấm no..., đồng thời thu hút du khách đến với thành phố biển. Nếu bạn có cơ hội đến thăm mảnh đất miền Trung nơi cuộc sống con người gắn liền với biển khơi thì hãy thử khám phá lễ hội lớn này của người dân nơi đây nhé. 

Thúy Diễm


THÔNG TIN LIÊN HỆ

0909 081 263

Gửi yêu cầu để được tư vấn.

Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn.

Tour hot

Hotline tư vấn: 0909081263
Zalo