VIET THANG TRAVEL KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH
VIET THANG TRAVEL KÍNH CHÀO QUÝ KHÁCH

ĐẠI NỘI HUẾ VÀ 13 VỊ VUA TRIỀU NGUYỄN

Huế vốn nổi tiếng là vùng đất cố đô mang vẻ đẹp trầm lắng, lãng mạn, nơi in dấu bao thăng trầm lịch sử của dân tộc. Huế mang cho mình vẻ đẹp mộng mơ, nên thơ với những khung cảnh hữu tình, những món ngon độc lạ và hơn hết Huế giữ được cho mình nét cổ kính bởi nơi đây lưu giữ những vết tích xưa của chốn cung đình triều Nguyễn - triều đại cuối cùng của Việt Nam. Mà “Đại Nội Huế” chính là một trong những địa điểm ghi dấu ấn văn hóa lẫn kiến trúc độc đáo mà du khách không thể bỏ lỡ khi tới cố đô. 

ĐẠI NỘI HUẾ

“Đại Nội Huế” là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới và còn lưu giữ nhiều dấu ấn đặc sắc của nét phong kiến triều đình nhà Nguyễn hàng trăm năm trước. Xét theo lịch sử Việt Nam thời cận đại, Đại Nội Huế được cho là công trình có quy mô đồ sộ nhất, với sự tham gia thi công, xây dựng của hàng vạn người, hàng triệu mét khối đất đá cùng với một lượng công việc khổng lồ từ đào hào, lấp sông, dời mộ, di dân, đắp thành. Với một quá trình kéo dài suốt 30 năm, từ năm 1804 dưới thời vua Gia Long nhưng đến năm 1833 thời vua Minh Mạng mới hoàn chỉnh. 

Đại Nội Huế sở hữu hơn 100 công trình kiến trúc nguy nga như: Ngọ Môn, Cung Diên Thọ, Tử Cấm Thành, Điện Thái Hòa,... Tuy nhiên khi trải qua một khoảng thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, các công trình kiến trúc bên trong Đại Nội Huế còn lại khá ít ỏi, chưa đầy một nửa so với ban đầu nhưng Đại Nội Huế vẫn còn giữ được những dấu tích quan trọng, chứng minh cho nền lịch sử đặc sắc của các triều đại vua chúa Nguyễn suốt hàng trăm năm. Tất cả những dấu vết, đồ vật năm xưa đều được bảo vệ cẩn thận và đó là những dấu tích về thời kỳ phong kiến hưng thịnh của nước nhà. 

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐẠI NỘI HUẾ

Nói về lịch sử hình thành của Đại Nội Huế, đã trải qua rất nhiều sự thay đổi ngôi vị của các vua chúa. Từ thời các chúa Nguyễn, đã chọn Huế làm thủ phủ Đàng Trong, từ năm 1687 đến năm 1774. Đến năm 1788, khi vua Quang Trung Nguyễn Huệ lên ngôi, cố đô Huế đã trở thành thủ đô của triều đại Tây Sơn. Đến năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu là Gia Long. Từ đó mở ra một vương triều nhà Nguyễn kéo dài suốt 143 năm. 

Năm 1802 sau khi đăng quang, vua Gia Long đã chỉ định Huế là nơi đóng đô của mình. Ông đã có cuộc khảo sát để chọn nơi xây dựng quần thể kinh thành. Mục đích xây dựng nhằm để hội họp triều đình và là nơi ăn ở của hoàng gia. Năm 1804, Kinh thành cũng như Đại Nội được xây dựng nhưng mãi đến năm 1833 mới hoàn thành (đây là khoảng thời gian trị vì của vua Minh Mạng). 

KIẾN TRÚC ĐẠI NỘI HUẾ

Đại Nội Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam. Kinh Thành và mọi công trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh Dịch ghi "Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ" (ý nói vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ). 

Toàn bộ Đại Nội có mặt gần như vuông, mỗi bề khoảng 600m, được xây bằng gạch, cao 4m, dày 1m, có tất cả 4 cửa để ra vào, trong đó Ngọ Môn ở phía Nam được xem là cửa chính. Đại Nội cùng với tất cả các hệ thống cung điện ở bên trong, đều được bố trí theo một trục đối xứng, trong đo trục giữa chỉ dành riêng cho các công trình cho vua. Riêng các công trình xung quanh, đều được tuân thủ theo nguyên tắc “Tả nam hữu nữ”, “Tả văn hữu võ”.  Dù các công trình đều được xây dựng ở bên trong Hoàng Thành Huế, thế nhưng tất cả đều được đặt xen kẽ giữa thiên nhiên, từ vườn hoa, hồ lớn nhỏ, các hòn đảo, cầu đá cho đến các loại cây tỏa bóng mát quanh năm. 

Tổng thể, kiến trúc Đại Nội Huế như một hình chữ nhật khổng lồ với tổng diện tích không gian lên đến 32 vạn m2. Tổng thể công trình là một loạt các kiến trúc rất cân xứng về hình thể với Ngọ Môn và Điện Thái Hòa làm trung tâm. Các công trình kế tiếp nhau được sắp xếp theo 1 trục đồng tâm phải – trái, vận dụng theo quy luật “vạn vật tương sinh – tương khắc” hài hòa âm dương trong 1 chỉnh thể kiến trúc quy mô lớn. Kiến trúc Đại Nội Huế tạo tác theo tư duy thượng tôn quân quyền, sùng bái Thiên tử, trong đó, điện Thái Hòa và điện Càn Thành tạo nên 1 đồng trục trung tâm nơi nhà vua ngự trị. 

Các công trình quan trọng bên trong có quy mô to rộng, được bố trí đối xứng trên trục trung tâm Nam – Bắc, tức đường Dũng đạo. Từ Nam sang Bắc có: Kỳ Đài, Ngọ Môn, sân Đại Triều Nghi, điện Thái Hòa, sân Bái Mạng, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, điện Khôn Thái, điện Kiến Trung, cửa Hòa Bình. Bộ mặt Hoàng thành là những công trình chính yếu phục vụ các cuộc đại lễ, thiết triều quan trọng như Ngọ Môn, sân Đại Triều Nghi, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, điện Khôn Thái, điện Kiến Trung được thiết kế đa dạng, mỗi công trình một kiểu dáng, đường nét, hình khối kiến trúc phong phú, trang trí nội ngoại thất hết sức tinh xảo với mật độ dày đặc từ trong ra ngoài, từ thấp lên cao.

Nhìn vào kiến trúc Ngọ Môn có cảm giác một cổng thành với nền tảng vững chãi, khỏe khoắn, kẻ thù trông thấy phải chùn bước. Song phần lầu Ngũ Phụng bên trên lại như một lễ đài rất bay bổng, mềm mại, gồm 9 bộ mái lợp ngói ống hoàng lưu ly và thanh lưu ly, cao thấp, to nhỏ, màu sắc khác nhau, mang đậm nét kiến trúc truyền thống. Tuy là hai khối kiến trúc nặng nhẹ tương phản nhau cả về hình khối kiến trúc và vật liệu xây dựng, song lại rất hài hòa với nhau từ tổng thể đến chi tiết. Tính hiện đại và dân tộc đã hòa quyện vào nhau nhuần nhuyễn trong công trình kiến trúc Ngọ Môn – Bộ mặt tiêu biểu của Kinh thành Huế.

Nơi ở, sinh hoạt của vua và gia đình như điện Càn Thành, điện Kiến Trung, điện Thọ Ninh, điện Khôn Thái, cung Diên Thọ, cung Trường Sinh, Duyệt Thị đường, Thái Bình lâu, Nhật Thành lâu, vườn Thượng Uyển… là hệ thống các công trình có nội dung phong phú, chứa đựng nhiều yếu tố của nhà ở dân gian. Nhiều tiểu cảnh được tổ chức khéo léo và tinh xảo, tạo nên những góc đẹp. Trong Hoàng thành còn có năm miếu thờ, mỗi miếu có một kiến trúc khác biệt nhau. Thế Miếu là nơi thờ mười vua triều Nguyễn, do vậy mà các công trình kiến trúc được chú trọng đặc biệt. Nổi bật nhất là Hiển Lâm Các, cấu trúc gỗ truyền thống với ba tầng cao, tương đương với Ngọ Môn, là công trình đẹp và cao nhất ở Hoàng thành. Miếu Môn ở Thế Miếu với 36 lá mái mềm mại, những hình đắp nổi và màu sắc kỳ diệu, là một trong những cửa đẹp nhất ở Hoàng thành. Ở đây còn có những kiệt tác khác, đó là Cửu Đỉnh. Chín cái đỉnh đồng, mỗi đỉnh mang một chữ trong miếu hiệu của một ông vua nhà Nguyễn: Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ, Huyền. Trên mỗi đỉnh có hàng chục hình chạm nổi thể hiện vũ trụ, thiên nhiên rất đặc sắc.

13 VỊ VUA TRIỀU NGUYỄN

Triều Nguyễn được biết đến là triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam, khởi điểm kể từ khi có sự xưng đế của Nguyễn Phúc Ánh tức vua Gia Long năm 1802 cho đến vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị vào năm 1945. Triều đại nhà Nguyễn trải qua tất cả 13 đời vua, thuộc 7 thế hệ. Có thể nói, triều Nguyễn là một triều đại đã đánh dấu nhiều bước thăng trầm của lịch sử Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh xâm lược của quân đội Pháp vào giữa thế kỷ thứ 19.

1. Vua Gia Long: Vua Gia Long (1762 – 1820), tên húy là Nguyễn Phúc Ánh, là vị vua sáng lập nhà Nguyễn. Năm 1775, lợi dụng sự suy sụp của triều đình chúa Nguyễn do cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, quân Trịnh vào chiếm Phú Xuân khiến Nguyễn Phúc Ánh phải trốn vào Nam. Từ đó ông bôn tẩu gian nan, tìm đủ mọi cách chiêu tập lực lượng để giành lại vương quyền cho họ Nguyễn. Năm 1792, vua Quang Trung mất, quân Tây Sơn ngày càng yếu và quân Nguyễn ngày càng lớn mạnh. Năm 1801, quân Nguyễn do Nguyễn Phúc Ánh chỉ huy đã đánh chiếm Quy Nhơn và chiếm Thuận Hóa.

Ngày 1-2-1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, chính thức lập nên triều đại nhà Nguyễn. Tháng 3 năm 1804, vua Gia Long đổi quốc hiệu nước ta là Việt Nam .

Gia Long làm vua được gần 18 năm (1802-1819), mất vào ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Mão (ngày 3 tháng 2 năm 1820), hưởng thọ 58 tuổi. Sau khi mất, bài vị vua Gia Long được đưa vào thờ ở Thế Miếu và có Miếu hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng đế.

2. Vua Minh Mạng: Vua Minh Mạng (1791 – 1841), tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, là vị hoàng đế thứ hai của triều Nguyễn. Vua Minh Mạng là con thứ 4 của vua Gia Long và bà Nguyễn Thị Đang (Thuận Thiên Cao Hoàng hậu). Ông sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi (25-5-1791) tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định. Vua Minh Mạng lên ngôi vào tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), làm vua từ năm 1820 đến năm 1840.

Trong thời gian trị vì, nhà vua đã có nhiều cải cách quan trọng: cho bỏ các dinh và trấn mà thành lập các tỉnh (cả nước được chia làm 31 tỉnh); định lại quan chế, đặt mức lương bổng của các quan tùy theo ngạch trật; thống nhất việc đo lường và thống nhất y phục; khuyến khích dân khai hoang lập ấp, sửa sang hệ thống giao thông, lập nhà Dưỡng tế ở các tỉnh để giúp đỡ những người nghèo khổ, tàn tật, già cả không nơi nương tựa…

Đề cao Nho học và khuyến khích nhân tài ra giúp nước là một trong những việc rất được vua Minh Mạng chú trọng. Nhà vua cho lập Quốc Tử Giám, mở thêm kỳ thi Hội và thi Đình (thời Gia Long chỉ có thi Hương).

Lãnh thổ Việt Nam dưới thời Minh Mạng được mở rộng nhất trong lịch sử và Việt Nam thực sự trở thành một quốc gia hùng mạnh. Vì vậy vào năm 1838, vua Minh Mạng cho đổi tên nước ta là Đại Nam.

Vua Minh Mạng mất ngày 28 tháng 13 năm Canh Tý (20-1-1841), hưởng thọ được 50 tuổi. Sau khi mất, bài vị vua Minh Mạng được đưa vào thờ ở Thế Miếu với Miếu hiệu Thánh Tổ Nhân Hoàng đế.

3. Vua Thiệu Trị: Vua Thiệu Trị (1807 – 1847), tên thật là Nguyễn Phúc Miên Tông, là vị hoàng đế thứ ba của Hoàng triều Nguyễn. Ông kế vị vua cha là Minh Mạng, trị vì từ 11/2/1841 đến khi qua đời 4/10/1847 (6 năm 235 ngày).  Tháng giêng năm Tân Sửu (1841) Miên Tông lên ngôi ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu là Thiệu Trị, vừa đúng 34 tuổi. Thiệu Trị hiền hòa, không hay bày việc, thực hiện quy chế đã được sắp đặt khá quy củ từ thời Minh Mạng Thiệu Trị giữ nếp cũ, chỉ răm rắp làm theo lời di huấn của cha thôi. Thời kỳ cầm quyền ngắn ngủi của Thiệu Trị chỉ đủ để giải quyết một số hậu quả để lại từ thời Minh Mệnh. 

Thứ nhất là khắc phục hậu quả của giải pháp bỏ đê ở Bắc Bộ. Vào năm Quý Mùi (1883), sau nhiều cố gắng củng cố và hoàn thiện hệ thống đê điều ở Bắc Bộ mà vẫn lụt lội, Minh Mệnh mạnh dạn áp dụng giải pháp “đào sông thay đê”. Vua cho phá bỏ đê điều vùng trũng phía nam Hà Nội, khơi đào sông thoát lũ vùng Hải Dương, Hưng Yên nhưng vô hiệu. Theo ý nguyện thần dân địa phương, Thiệu Trị lại cho đắp đê, đập chắn ngang cửa sông Cửu An. 

Việc thứ hai là giải quyết vấn đề Chân Lạp. Cuối đời Minh Mạng, thành Trấn Tây là mối lo cần giải quyết. Trương Minh Giảng, Nguyễn Tiến Lâm, Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ… đem quân đánh dẹp mãi không yên. Vì thế ngay năm đầu lên ngôi, triều quan như Tạ Quang Cự tâu xin bỏ đất Chân Lạp, rút quân về giữ An Giang. Vua nghe theo, xuống chiếu bãi binh. Trương Minh Giảng về đến An Giang thì mất. Tháng 6 năm 1845, Chân Lạp bị Xiêm chiếm đóng, đáp lời cầu viện của Chân Lạp, triều đình lại cử binh sang buộc tướng Xiêm là Chất Tri ký hòa ước rồi hai nước cùng bãi binh. Nguyễn Tri Phương, Doãn Uốn rút quân về đóng ở Trấn Tây. Năm 1846, Nặc Ông Đơn sai sứ sang dâng biểu và cống phẩm. Tháng 2 năm 1847 triều đình Nguyễn phong Nặc Ông Đơn là Cao Miên quốc vương và Mỹ Lâm quận chúa, Cao miên quận chúa. Lại xuống chiếu cho quân thứ ở Trấn Tây rút về An Giang. Từ đó, Chân Lạp lại có vua và phía Tây Nam bắt đầu yên dần.

Vấn đề thứ ba là quan hệ với phương Tây. Khi Thiệu Trị lên cầm quyền thì việc cấm đạo có nguôi đi ít nhiều. Một số giáo sĩ bị bắt giam từ trước tại Huế, bị kết án tử hình nay được tự do nhờ sự can thiệp của hải quân Pháp.

Sau đó, tháng 9 năm 1847, Thiệu Trị bị bệnh rồi mất, trị vì được gần 7 năm.

4. Vua Tự Đức: Vua Tự Đức (1829 – 1883), tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, là vị hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn. Ông là con thứ 2 của vua Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng (Hoàng hậu Từ Dũ), sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (22-9-1829). Tháng 10 năm Đinh Mùi (1847), Hồng Nhậm lên ngôi ở điện Thái Hòa, lấy niên hiệu là Tự Đức.  

Tự Đức ốm yếu sức khỏe lại kém nhưng bù lại Tự Đức lại rất thông minh và có tài văn học. Vua thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, xem sách đến khuya. Có thể nói Tự Đức là một trong những người uyên bác nhất thời đó và là môn đồ tích cực của Khổng học. Tự Đức được đánh giá là một vị vua tốt. Ông chăm chỉ xem xét việc triều chính không hề trễ nải, được các quan nể phục. Ông là vị vua ham học, hiểu rộng và đặc biệt giỏi văn thơ, và cũng được người đời ca tụng là một ông vua rất có hiếu.Triều đại của ông đánh dấu nhiều biến cố với vận mệnh Đại Nam, phải chật vật đối phó với thế lực phương Tây nhưng không thành công, rồi dần dần để chủ quyền đất nước rơi vào tay người Pháp.
Vua Tự Đức không con, ông nhận 3 người cháu làm con nuôi là: Nguyễn Phúc Ưng Chân (sau này là vua Dục Đức); Nguyễn Phúc Ưng Thị (sau này là vua Đồng Khánh); Nguyễn Phúc Ưng Đăng (sau này là vua Kiến Phúc).

Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn. Năm 1883, Tự Đức mất, trị vì được 36 năm, thọ 55 tuổi. Triều đình Huế phải ký hòa ước Quý Mùi (1883) rồi hòa ước Patơnốt (1885), đất nước bị chia làm 3 kỳ chịu sự bảo hộ của thực dân Pháp.

5. Vua Dục Đức: Vua Dục Đức (1852 – 1883), tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Ái – sau đổi thành Nguyễn Phúc Ưng Chân, ông lên ngôi vua ngày 19/7/1883 nhưng tại vị chỉ được ba ngày, ngắn nhất trong số 13 vị hoàng đế của triều Nguyễn. Vừa lên ngôi được vài ngày thì bị hai vị phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường hạch tội phế truất. Dục Đức bị tống giam tại một phòng kín vừa được cấp tốc xây lên ngay trong biệt điện mình. Dục Đức bị đối xử như một tù nhân thường. Nhờ người lính gác thương tình chủ cũ, hàng ngày đút cho một nắm cơm và một chiếc áo cũ thấm nước, vắt ra uống, Dục Đức sống thoi thóp được gần một tháng thì chết, xác vùi trên một quả đồi, không quan tài và không ai được đi đưa tang. Hơn 20 năm sau, con trai thứ 7 tức Thành Thái lên làm vua, Dục Đức mới được khôi phục lại đế hiệu và tôn là “Cung tôn huệ hoàng đế”.

6. Vua Hiệp Hòa: Vua Hiệp Hòa (1847 – 1883), tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Dật, là con thứ 29 và là con út của vua Thiệu Trị. Sau khi phế Dục Đức, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đưa Hồng Dật lên làm vua, giai thoại kể rằng khi quần thần đến phủ rước, dù năn nỉ mấy, Hồng Dật cũng không đi, cuối cùng phải dùng vũ lực đưa ông vào Tử Cấm thành. Sau vì bất đồng quan điểm nên bị hai quan phụ chính ép uống thuốc độc chết sau khi tại vị 4 tháng.
Hiệp Hòa làm vua được 4 tháng, chết lúc 36 tuổi, giao cho phủ Tôn nhân chôn cất theo nghi thức Quốc công.

7. Vua Kiến Phúc: Vua Kiến Phúc (1869 – 1884), tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là con thứ ba của Kiên quốc công Nguyễn Phúc Hồng Cai (em ruột của vua Tự Đức, sau tôn là Thuần Nghị Kiên Thái Vương). Năm lên hai tuổi vì Tự Đức không có con, nên được đưa vào cung, sung làm Hoàng thiếu tử, do học phi Nguyễn Thị Chuyên nuôi dưỡng. Từ nhỏ vua Kiến Phúc đã sớm hiểu biết, ôn hòa, lặng lẽ và sạch sẽ, cẩn thận lời nói và việc làm. Vì thế, Tự Đức rất khen và tỏ ý yêu dấu khác thường. Trong di chiếu, Tự Đức tỏ ý muốn nhường ngôi nhưng vì nhỏ tuổi (mới 14 tuổi) đành thôi. 

Sau khi vua Hiệp Hòa bị phế truất, vào ngày 2-12-1883, Ưng Đăng (15 tuổi) được đưa lên ngôi vua và đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Vua Kiến Phúc ở ngôi được 8 tháng thì mất vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân (31-7-1884). Sau khi mất, bài vị vua Kiến Phúc được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có Miếu hiệu là Giản Tông Nghị Hoàng đế.

8. Vua Hàm Nghi: Vua Hàm Nghi (1871 – 1944), tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, là em trai của vua Kiến Phúc. Sau khi vua Kiến Phúc mất, ngày 12 tháng 6 năm Giáp Thân (2-8-1884) Ưng Lịch được đưa lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi lúc mới 14 tuổi. 

Binh biến năm Ất Dậu (5-7-1885) xảy ra, vua Hàm Nghi cùng quần thần ra Tân Sở, phát động phong trào Cần Vương kháng Pháp trên toàn quốc. Quân Pháp nhiều lần kêu gọi nhà vua quay về nhưng thất bại. Ngày 30 tháng 10 năm 1888, tên Trương Quang Ngọc (người hầu của vua) bị Pháp mua chuộc nên đem người bắt vua Hàm Nghi dâng cho Pháp. Vua Hàm Nghi bị quân Pháp bắt đi đày ở Algérie vào ngày 13 tháng 1 năm 1889. Nhà vua sống ở đó cho đến lúc mất (4-1-1943), thọ 72 tuổi.

9. Vua Đồng Khánh: Vua Đồng Khánh (1864 – 1889), tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Thị, có tài liệu thì ghi là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, Nguyễn Phúc Biện. Ông là con trai cả của Kiên quốc công Nguyễn Phúc Hồng Cải và là con nuôi của vua Tự Đức. Sau binh biến năm 1885, vua Hàm Nghi bỏ ngai vàng ra Tân Sở, triều đình Huế thương lượng với Pháp đưa Ưng Đường lên ngôi, đặt niên hiệu là Đồng Khánh. Ngay từ đầu, vua đã trở thành công cụ trong tay người Pháp. Song đời làm vua của Đồng Khánh không được lâu, ngày 25 tháng 12 năm 1888, Đồng Khánh chết bệnh tại chính điện Càn Thành. 

10. Vua Thành Thái: Vua Thành Thái (1879 – 1954), tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con thứ bảy của vua Dục Đức. Vua Đồng Khánh mất, triều đình Huế được sự đồng ý của Pháp đã đưa Bửu Lân lên ngôi với niên hiệu là Thành Thái, lúc mới 10 tuổi.  

Ông là người cầu tiến, yêu nước, có hiểu biết khá toàn diện. Khác với những vị vua trước đây, ông học tiếng Pháp, cắt tóc ngắn mặc âu phục, làm quen với vǎn minh phương Tây. Ông ngày càng bộc lộ tinh thần dân tộc và chống Pháp rất cao. Khâm sứ Pháp và quần thần Nam triều xu nịnh rất muốn truất ngôi của Thành Thái để thay bằng một vua bù nhìn khác. Họ phao tin, nhà vua bị điên để hạ uy thế. Sau 19 năm ở ngôi, dưới áp lực của Pháp, triều đình Huế lấy cớ nhà vua mắc bệnh tâm thần và buộc phải thoái vị. Sau đó, ông bị Pháp đưa đi an trí ở Vũng Tàu. Năm 1916, ông bị Pháp đem đi đày ở đảo Réunion (Châu Phi). Năm 1947, ông được trở về sống ở Sài Gòn cho đến khi mất. 

11. Vua Duy Tân: Vua Duy Tân (1900 – 1945), tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh San, là con trai của vua Thành Thái. Năm 1907, vua Thành Thái thoái vị, triều đình Huế đưa Hoàng tử Vĩnh San lên ngôi, lấy niên hiệu là Duy Tân lúc mới được 8 tuổi. Vua Duy Tân là vị vua lên ngôi nhỏ tuổi nhất trong 13 vua Nguyễn. Tuy nhiên nhà vua lại là người chững chạc, có khí phách của một bậc đế vương. Cũng như cha mình, vua Duy Tân là người có tư tưởng chống Pháp. Nhà vua đã cùng với Thái Phiên, Trần Cao Vân… vạch định cuộc nổi dậy chống Pháp vào ngày 3 tháng 5 năm 1916. Nhưng âm mưu bại lộ, nhà vua cùng Thái Phiên và Trần Cao Vân trốn ra khỏi Kinh Thành. 3 ngày sau, vua Duy Tân bị Pháp bắt và bị kết tội rồi đày sang đảo Réunion. Năm 1945 nhà vua mất trong một tai nạn máy bay khi được 46 tuổi.

12. Vua Khải Định: Vua Khải Định (1885 – 1925), tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, là con trưởng của vua Đồng Khánh. Vua Đồng Khánh mất, Hoàng tử Bửu Đảo còn ít tuổi (4 tuổi) nên không được chọn làm vua. Đến năm 1916, sau khi vua Duy Tân bị Pháp đưa đi đày ở Réunion, triều đình Huế và người Pháp mới lập Bửu Đảo lên ngôi vua vào ngày 18-5-1916, lấy niên hiệu là Khải Định. Tuy kế nhiệm Duy Tân nhưng Khải Định là một ông vua thân Pháp nên không có được cảm tình của nhân dân. 

Vua Khải Định lên ngôi được 10 năm thì bị bệnh nặng và mất vào ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu (6-11-1925), thọ 41 tuổi. 

13. Vua Bảo Đại: Vua Bảo Đại (1913 – 1997), tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, ông là vị vua cuối cùng của triệu đại nhà Nguyễn, cũng là vị hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam. Hoàng tử Vĩnh Thụy được đưa sang Pháp học lúc mới 10 tuổi, đến khi vua Khải Định qua đời, ông về Huế lên ngôi vua vào ngày 8 tháng 1 năm 1926, lấy niên hiệu Bảo Đại, đây là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn. Sau đó, ông lại tiếp tục sang Pháp học cho đến 8-9-1932 mới trở về Huế. Ông được đào tạo theo Tây học, hào hoa lịch lãm, mạnh dạn bỏ một số tập tục của các vua đời trước, phá lệ Tứ bất đặt ra từ thời Gia Long phong bà Nguyễn Hữu Thị Lan là Nam Phương hoàng hậu và đã thực hiện nhiều cải cách về nội các, hành chính. Ngày 30/8/1945 sau 80 năm nô lệ, quần chúng cách mạng cả nước dưới sự lãnh đạo của Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dấy lên như vũ bão, trước hơn 5 vạn nhân dân thành phố Huế tập trung ở cửa Ngọ Môn, Bảo Đại tuyên bố thoái vị, trao ấn kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng, và tuyên bố “làm công dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ”.

Chế độ phong kiến chấm dứt, Bảo Đại sang Pháp và sống hết cuộc đời của vị vua lưu vong ở đó.Bảo Đại qua đời vào 5 giờ sáng ngày 31 tháng 7 năm 1997 tại Quân y viện Val-de-Grâce, Paris và an táng tại Nghĩa trang Pasy, Paris.

Lăng tẩm 7 vị vua triều Nguyễn ở Huế

Triều Nguyễn có 13 vị vua, song vì nhiều lý do chỉ 7 khu lăng tẩm được xây dựng. Hệ thống lăng tẩm triều Nguyễn gồm lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Dục Đức và Khải Định. Mỗi nơi lại sở hữu lối kiến trúc đặc sắc riêng với những chạm khắc tinh xảo.

1. Lăng Gia Long: Lăng Gia Long (hay Thiên Thọ Lăng) được xây dựng từ năm 1814 đến năm 1820, nằm giữa quần thể núi Thiên Thọ thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đây là nơi yên nghỉ của vua Gia Long (1762 - 1820), vị vua đầu tiên trong số 13 đời vua nhà Nguyễn. Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi lớn nhỏ, trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này.

2. Lăng Minh Mạng: Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 để chôn cất vua cha Minh Mạng. Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12km. Trước lăng có 3 cửa, chính giữa là Đại Hồng Môn (chỉ mở một lần duy nhất khi rước di thể của vua Minh Mạng nhập lăng), hai bên là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn. Bên trong Đại Hồng Môn có sân chầu, hai bên có hai dãy tượng đá tạc hình bá quan văn võ và voi, ngựa đứng chầu.

3. Lăng Thiệu Trị: Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy. Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chôn cất vua cha Thiệu Trị. So với lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng. Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn. Kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và lăng Minh Mạng trong khung cảnh thanh bình của đồng quê với những cánh đồng, ruộng lúa và vườn cây ăn trái quây quanh.

4. Lăng Tự Đức: Được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị, là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng. Lăng có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn. Ngoài mục đích là nơi chôn cất khi qua đời, đây còn là nơi vua đến nghỉ ngơi, đọc sách, ngâm thơ… nên cảnh quan của lăng tựa như một công viên rộng lớn với hồ nước thơ mộng, hàng thông xanh ngát. Đặc biệt phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn bảo lưu.

5. Lăng Dục Đức: Lăng Dục Đức (hay An Lăng) tọa lạc ở phường An Cựu, thành phố Huế. Lăng xây dựng vào năm 1889 và là nơi an táng các vua Dục Đức, vua Thành Thái và vua Duy Tân. So với lăng tẩm khác của các vua nhà Nguyễn, lăng Dục Đức có kiến trúc đơn giản và khiêm tốn. Phía trước lăng có một cửa dạng vòm làm bằng gạch. Tiếp đến là sân Bái Đình, thế nhưng trong sân không đặt các tượng gạch như ở những lăng tẩm khác. Sau sân là cửa chính dẫn vào nhà trong. Trong nhà có sập thờ, án thờ. Phía cuối nhà là lăng mộ của ba vị vua. Phía trước lăng có cồn Phước Quả, phía sau lăng có núi Tam Thai bảo vệ, che chắn.

6. Lăng Đồng Khánh: Lăng Ðồng Khánh còn gọi là Tư Lăng tọa lạc giữa một vùng quê thuộc làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân ngày trước (nay là thôn Thượng Hai, phường Thủy Xuân, thành phố Huế). Nguyên trước đây là Ðiện Truy Tư được vua Đồng Khánh xây dựng để thờ cha mình là Kiên Thái Vương. Khi Ðồng Khánh mắc bệnh và đột ngột qua đời. Vua Thành Thái kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm, đành lấy điện Truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Ðồng Khánh. 

7. Lăng Khải Định: Hay còn gọi là Ứng Lăng là lăng mộ của vua Khải Định - vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, tọa lạc tại xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tuy có kích thước khiêm tốn nhưng tỉ mỉ, kỳ công nên tốn nhiều thời gian cũng như kinh phí hơn các lăng khác. Lăng được xây trong 10 năm, từ 1920 đến 1930. Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi sự pha trộn kiến trúc Đông Tây Kim Cổ lạ thường, với các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo. Đặc biệt, lăng Khải Định nổi tiếng với 3 bức bích họa “cửu long ẩn vân” được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định, được coi là hoành tráng và có giá trị nhất tại Việt Nam.

Nếu bạn đến Huế thì đừng bỏ qua địa điểm nổi tiếng nằm trong quần thể di tích cố đô này. Bên cạnh đó bạn còn có thể tham quan khám phá 7 lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn, tìm hiểu về các vị vua cũng như cách cai trị đất nước của vua chúa ngày xưa. 

Thúy Diễm

 

Xem thêm tour Huế:

Chùm tour Miền Trung trọn gói

Tour Huế - Đà Nẵng - Hội An 4N3Đ

Tour Đà Nẵng - Hội An - Huế - Quảng Bình 5N4Đ

Tour Đà Nẵng - Hội An - Huế 4N3Đ


THÔNG TIN LIÊN HỆ

0909 081 263

Gửi yêu cầu để được tư vấn.

Chúng tôi sẽ liên hệ với bạn.

Tour hot

Hotline tư vấn: 0909081263
Zalo